Bình chọn
Đánh giá của bạn về Cổng thông tin điện tử?
42 người đã bình chọn
 Thống kê truy cập
Thống kê: 25.037
Online: 1073

KHÁI QUÁT VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, KINH TẾ, DÂN CƯ VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ XÃ ĐIỀN TRUNG I. VÍ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ KINH TÉ 1. Vị trí địa lý Điền Trung là một xã vùng thấp của huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm huyện lỵ (thị trấn Cành Nàng) 14km về phía Đông, cách thành phổ Thanh Hóa (tỉnh lỵ) khoảng 94 km về phía Tây, nằm thụộc vùng trung lưu sông Mã. Phía Bắc trải dài hơn 3km dọc theo sông Mã giáp xã Lương Ngoại, giáp thôn Mốt Đọi, xã Lương Trung. Phía Tây Bắc dọc theo suối Đại Lạn (Hón Khô) giáp với xã Điền Lư (Điền Trung và Điền Lư vốn là một xã chia đôi). Phía Đông dọc theo trục đường 217 giáp với thôn Én, xã cẩm Thành, huyện cẩm Thủy. Phía Tây Nam giáp 2 xã Điền Quang và Điền Hạ. Là một xã vùng thấp của huyện Bá Thước, nằm ở phía Đông Nam của lòng chảo thung lũng Caxitơ, Điền Trung có tổng diện tích tự nhiên là: 2.235,75ha, dân số đến năm 2005 là: 6.515 người. Có 3 dân tộc chủ yếu là: Mường, Kinh Thái. Trong đó, dân tộc Mường chiếm 66%, dân tộc Kinh chiếm 33,4%, dân tộc Thái chiếm 0,6% so với tổng số dân số toàn xã. Vùng đất Điền Trung ngày nay (thuộc tổng Điền Lư trước kia), là một vùng đất có lịch sử từ rất sớm. Qua tư liệu nghiên cứu của nhà sử học, các nhà nghiên cứu, sưu tầm lịch sử Thanh Hóa và địa phương cho biết: Năm Tự Đức thứ 3 (1851), Điền Trung (Điền Lư cũ) thuộc 4 tổng của Châu Quan Hóa đó là các tổng: Sa Long; Thiết Ống; Cổ Lũng và Điền Lư. Tổng Điền Lư lúc đó gọi là “Mường Khô”, Mường Khô được chia thành 3 phần gọi là xã bao gồm: - Một là: Xã Phụng Thượng gồm có các làng đó là: làng Muỗng, làng Mười, làng Trướm, làng Cộc, làng Ngán, làng Chiềng, làng Lam, làng Van, làng Riềng, làng Võ, làng Đớn, làng Song, làng Trót, làng Si, làng Giải. - Hai là: Xã Thạch Lư gồm các làng đó là: làng Don, làng Đặc, làng Triu, làng Kéo, làng Muỗng, làng Do, đồi Muốn, làng Đắm, làng Đan. - Ba là: Xã Sơn Hạ gồm có các làng đó là: Làng Xịa, làng Trúc, làng Cò, làng Giát, làng Khò, làng Má, làng Mít. Năm Khải Định thứ 10 (1925), thực dân Pháp và triều đình Huế cắt 4 tổng: Sa Long, Thiết Ống, Cổ Lũng, Điền Lư để lập châu mới là: Châu Tân Hóa. Tháng 2 (âm lịch) năm Tân Tỵ (1941), Chánh lĩnh kiêm tri châu Tân Hóa, Phó đề đốc Hà Triều Nguyệt (cha đẻ Hà Công Thắng) tạ thế, chỉ sau đó 2 năm (năm 1943), chính quyền phong kiến chia Châu Tân Hóa thành 2 phần: Phía Đông, Điền Lư và Sa Long (Quý Lương và Long Vân) nhập vào huyện cẩm Thủy. Phần phía Tây là: Cổ Lũng và Thiết Ống là một bang của Châu Quan Hóa. Tháng 11 năm 1945, Ủy ban hành chính quyết định đổi tên là Châu Bá Thước (lấy tên Bá Thước để kỷ niệm một thủ lĩnh phong trào cần Vương Thanh Hóa). Tháng 3 năm 1948, thực hiện sắc lệnh 48 - SL/CTN, Sắc lệnh của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đơn vị hành chính châu Bá Thước được đổi sang cấp hành chính là huyện. Huyện Bá Thước lúc đó được chia thành 7 xã, bao gồm các xã: Quốc Thành, Văn Nho, Thiết Ống, Hồ Điền, Quý Lương, Long Vân và Ban Công (Điền Trung, Điền Lư là một trong 4 làng của xã Hồ Điền). Ngày 2 tháng 5 năm 1964, thực hiện theo quyết định 107 - QĐ/NV của Bộ Trưởng Bộ Nội vụ chia xã Hồ Điền thành 4 xã Tháng 12 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 163 - QĐ/HĐBT, chia tách xã Điền Lư thành hai xã đó là: xã Điền Lư và xã Điền Trung (chính thức chia thành 2 xã vào ngày 14 tháng 12 năm 1984). Xã Điền Trung ngày nay, về mặt hành chính có: 10 làng sống theo cụm dân cư đó là: làng Cộc Ngán, làng Cun Láo, làng Muỗng Do, làng Cò Lượn, làng Kéo, làng Giát, làng Rầm Tám, làng Xịa, làng Điền Thái, làng Trúc. Điền Trung là cửa ngõ phía Đông của huyện Bá Thước, có dòng sông Mã chảy qua khoảng hơn 4km, phía Bắc nằm ở hữu ngạn sông Mã có nhiều đồi cao và núi đá như núi Bung Bò, trong dân gian gọi là núi 3 mường (nơi tiếp giáp Mường Khô, Mường Khôông, Mường Trám (Cẩm Thành - Cẩm Thủy). Có các dãy núi đan xen núi đá vôi trải dài từ làng Rầm Tám kéo dài đến các làng Xịa, làng Điền Thái giáp xã Cẩm Thành - Cẩm Thủy. Phía Nam có nhiều núi đất, đá xen kẽ lẫn nhau kéo dài từ làng Cộc NgáV trải dài đến các làng Đồng Lượn, Cun Láo giáp với xã Điền Hạ, bình địa thoai thoải tạo nên những thung lũng nhỏ. Ngoài ra còn có những con suối lớn, nhỏ từ các dãy núi đổ về hướng Bắc, đổ ra sông Mã, hợp lại bởi một con suối lớn - suối Đại Lạn (Hón Khô) được bắt nguồn từ Điền Thượng chảy qua Điền Quang tạo cho Điền Trung một khung cảnh thật đẹp và bình yên với những cánh đồng lúa, ngô, lạc, mía màu mỡ xanh tươi, trù phú cho mùa bội thu. Dòng sông Mã đã trở thành mạch máu giao thông quan trọng để trao đổi buôn bán giao lưu hàng hóa giữa xã Điền Trung với các vùng miền khác trên địa bàn huyện Bá Thước và các huyện bạn trong tỉnh Thanh Hóa. Về giao thông đường bộ: Điền Trung có tuyến đường 217 là tuyến đường huyết mạch đi sang nước bạn Lào, qua địa phận xã Điền Trung với chiều dài trên 7 km. Từ thời xa xưa con đường này là huyết mạch giao thông quan trọng để ra Bắc vào Nam, sang nước bạn Lào đặc biệt là trong cuộc kháng chiến trường kì 9 năm (1945 - 1954), chống thực dân Pháp xâm lược, con đường đã toả rộng về phía Tây và Tây Bắc để tiếp tế cho mặt trận Thượng Lào, Tây Bắc, Điện Biên Phủ,... Ngoài ra còn có các tuyến liên thôn, liên xã từ ngã 3 cầu Đại Lạn đi Điền Quang, Điền Hạ; từ làng Cò Trúc, Thái Xịa đi bến Bôi Cẩm Thành - Cẩm Thủy. Tất cả các thôn của Điền Trung đều có đường giao thông nối liền với đường 217. Các tuyến sông, con đường huyết mạch quan trọng để giao lưu, khai thác tiềm năng và phát triển kinh tế - xã hội trong vùng, chính vì vậy Điền Trung là cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa quan trọng với các vùng miền phía Đông của huyện, cũng như giao lưu với các tỉnh khác trên mọi miền tổ quốc. Các nhà chiến lược quân sự xưa nay vẫn coi mảnh đất này là nơi hiểm yếu, có thể vừa là tiền đồn, vừa là hậu phương vững chắc của các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Về cấu trúc địa tầng: Điền Trung có nhiều dạng núi đất, núi đá, thung lũng, sông, suối lớn nhỏ. Từ phía Bắc giáp sông Mã dọc về phía Đông có nhiều dãy núi đá vôi cao ngất như núi Bung Bò, Ngọc Xiêng, Móc Lòng...đi về phía Tây Nam là những dãy núi trải dài đá xen lẫn đất đỏ Bazan kéo dài đến tận Điền Hạ - giáp Cẩm Thủy, với diện tích khoảng 156ha núi đất đá. Đây là kho vật liệu vô tận để sản xuất vật liệu xây dựng cho các công trình kinh tế, văn hóa phúc lợi của nhận dân. Nguồn tài nguyên có nhiều ưu thể như đồi Đuống; núi Làn Đỏ, núi Làn Vàng, thung Trâu; thung Lượn vv.... Phía Nam sông Mã, dọc theo suối Đại Lạn “Hón Khô” ngày xưa đã tạo nên những thung lũng bồi đắp phù sa là những bãi màu, là những cánh đồng bằng phẳng bạt ngàn màu mỡ xanh tươi. 2. Về kinh tế Kinh tế ở Điền Trung chủ yếu vẫn là kinh tế nông nghiệp, các thôn Rầm Tám, thôn Muỗng Do, Ngán Sen, Cò Trúc, Đồng Lượn... tập trung sản xuất cây trồng chính là cây lúa nước. Ngoài ra ở Điền Trung khí hậu ôn đới mát mẻ, tạo điều kiện thuận lợi để người dân nơi đây trồng các loại rau màu và các loại cây như: ngô, lạc, đậu và mía trên nương rẫy và các bãi bồi. Các thôn như Kéo, Rầm Tám, Thái Xịa có diện tích trồng màu và các loại cây nông sản lớn, nên hàng năm đưa lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhân dân nơi đây. Các cây lương thực và rau màu là nguồn nông sản quan trọng phục vụ nhân dân trên địa bàn và các vùng lân cận. Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, việc khai thác tài nguyên và trồng rừng ở địa phương sớm đã phát triển. Điền Trung có diện tích rừng là 1.207,58ha; nhiều trữ lượng gỗ quý và rừng trồng chủ yếu là cây luồng và một số cây khác như lát, keo... Gỗ, luồng đã trở thành sản phẩm hàng hóa và là nguồn thu nhập lớn của nhân dân Điền Trung. Về chăn nuôi: Chủ yếu là chăn nuôi theo hộ gia đình, nhưng đó cũng là một nghề không thể thiếu được trong nền kinh tế của xã. Trước đây chủ yếu là chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt... sau này có các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng Nhà nước khuyến khích nên nghề chăn nuôi của xã phát ữiển quy mô theo hướng trang trại, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm và thủy sản. Về thủy lợi: Các nguồn sinh thủy tự nhiên đã có từ lâu đời gắn liền với cuộc sống đồng bào các dân tộc trong xã như: suối Đầm Vàng, suối Đại Lạn vv... Từ xa xưa nhân dân đã khai mương đắp đập để lấy nước sinh hoạt và phục vụ cho sản xuất như: đập Bai Cộc, Bai Đống, Bai Váng, Bai Tuần, Bai Khanh, đập Hồ Xịa... sau này, Nhà nước đầu tư xây dựng đập Bai Cộc kiên cố và kênh Bắc, kênh Nam dẫn nước tưới tiêu cho cả 2 xã Điền Lư và Điền Trung, là vùng họng điểm lúa, màu của huyện. Về thương nghiệp: Thương nghiệp ở Điền Trung phát triển chậm hơn so với nông nghiệp và lâm nghiệp. Trước đây buôn bán chủ yếu là hình thức đổi hàng, sau này có sự giao lưu kinh tế từ miền xuôi lên miền núi đã hình thành chợ phố và dần dần thương nghiệp mới phát triển từng bước. Sau ngày Đảng bộ được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế của địa phương được phục hồi từng bước, cây lương thực, trong đó cây lúa là chính đã được chú ý nhiều hơn. Song lúc này trình độ canh tác của nhân dân còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, thiên tai địch hoạ xảy ra liên tiếp cho nên tình trạng sản xuất tự cấp tự túc là chủ yếu. II. ĐẶC ĐIỂM VÈ DÂN CƯ VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ 1. Dân cư Từ nhiều thế kỷ trước, ở Điền Trung chủ yếu là dân tộc Mường, họ của người Mường Điền Trung thường là: Hà, Trương, Phạm, Cao, Bùi, Quách. Giai đoạn 1954 - 1955 có một số hộ người Dao di cư từ Đồi Muốn (Điền Quang) về định cư ở 2 làng Rầm Tám và làng Xịa, sau này số người Dao (Mán) này chuyển cư xuống Cẩm Thủy, Ngọc Lặc. Từ năm 1963 đến tháng 11 năm 1964, thực hiện cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển xây dựng kinh tế - văn hóa miền núi, người Kinh đã lên Điền Trung sinh sống. Bên cạnh đó là một số ít người Thái về làm dâu, làm rể tại địa phương. Hiện nay, ở Điền Trung 3 dân tộc Mường, Kinh, Thái đã sống chung trồng một cộng đồng như anh em một thịt. Mặc dù có nhiều dân tộc ở nhiều nơi tới đây lập nghiệp sinh sống, nhưng những con người sống ở đất Điền Trung luôn đoàn kết một lòng, chung tay xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp. Giữa các dân tộc anh em có sự giao lưu kinh tế, văn hóa, đan xen văn hóa một cách hài hòa tự nhiên. Đó là con đường duy nhất để đưa các dân tộc trong xã đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. về mặt quan hệ xã hội: Khi thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta, chúng đã duy trì ở đây hai hình thức bóc lột là: Thực dân phong kiến và thổ ty lang đạo. Nhân dân trong xã không những phải chịu sự thống trị của thục dân và chính quyền phong kiến mà còn phải chịu sự thống trị hà khắc, tàn ác của bọn lang đạo. Vì thể sự phân hóa tầng lóp trong xã hội rất cụ thể. Bọn thổ ty lang đạo được thực dân Pháp nâng đỡ nên đã trở thành những tên “bạo chúa” của Mường. Điền Trung trước đây thuộc tổng Điền Lư là đất Mường Khô do Đạo Mường. Y là một lang đạo khét tiếng hung bạo nhất vùng. Nhân dân các làng bản phải sống vô cùng cực khổ dưới ách thống trị hà khắc của chế độ phong kiến. Tất cả ruộng đất, trâu, bò, núi, rừng, sông suối; tài sản trên nhà, dưới sân, gươm dài, súng tốt, xanh, nồi to, cồng, chiêng các loại... đều thuộc quyền quản lý của nhà Lang. Tầng lớp địa chủ, phú nông đại bộ phận nằm trong tay bọn thổ ty lang đạo. Nông dân muốn làm ruộng, làm rẫy, cưới vợ, gả chồng đều phải có những khoản cống nộp hết sức nặng nề. Đi đôi với việc tập trung ruộng đất tốt, chúng độc quyền khai thác lâm, thổ sản và săn bắt thú rừng. Các thứ tài sản, Lang muốn lấy gì thì lấy, đi săn bắt được thú rừng quý, đánh bắt được cá to đều phải nộp cho nhà Lang, những người dân ở các chòm, bản Mường không may động đến bất cứ cái gì đều phải nộp vạ cho làng, cho Lang Đạo rất nặng. Lang nói việc gì, giao việc gì nếu làm trái ý của nhà Lang thì bị xử phạt rất tàn bạo. Do vậy mâu thuẫn giữa nông dân với bọn thổ ty lang đạo, địa chủ, phú nông ngày càng trở nên gay gắt, sự căm ghét thực dân, phong kiến ngày càng dâng cao. Vì vậy khi có ánh sáng của Đảng soi đường họ sẵn sàng đi theo cách mạng. Nền kinh tế ở Điền Trung trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, thậm chí đến sau hòa bình lập lại (1945) vẫn năm trong tình trạng phụ thuộc vào thiên nhiên, nghèo nàn và lạc hậu. Cũng như bao miền quê khác trên đất nước Việt Nam, người nông dân Điền Trung vốn có truyền thống cần cù trong lao động sản xuất, đoàn kết cộng đồng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm và thiên tai địch họa. Trong nhiều thập kỷ sổng dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, cuộc sống của nhân dân Việt Nam nói chung, Điền Trung nói riêng vô cùng cực khổ, vừa phải làm việc cực nhọc, lại bị đánh đập tàn nhẫn, đói rét và bị đối xử khinh bỉ. Do đó mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân chủ yếu là nông dân với địa chủ, phong kiến và bọn lang đạo ngày càng trở nên sâu sắc hơn lúc nào hết. Chính vì thế, khi được Đảng cộng sản giác ngộ cách mạng, giai cấp nông dân Điền Trung là lực lượng hùng hậu nhất trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc cũng như chống thiên tai khắc nghiệt để tồn tại và phát triển. 2. Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm Lịch sử dân tộc Việt Nam từ thời dựng nước cho tới nay là lịch sử của một dân tộc anh hùng. Dân tộc ta đã chiến đấu kiên cường, dũng cảm chinh phục thiên nhiên, chiến thắng mọi kẻ thù để tồn tại và phát triển. Cùng với cả dân tộc, nhân dân xã Điền Trung vừa xây dựng vừa tham gia đấu tranh chống lại kẻ thù để gìn giữ mảnh đất thân yêu đã bao đời do chính mình tạo nên. Từ thế kỷ thứ X, qua sự tích “chiếc ngai vàng bằng đá” của vua Xăm chúa Xèo, xã Điền Hạ (thuộc tổng Điền Lư cũ) và các đồ dùng tìm thấy được trong các gia đình còn in rõ các hoa văn, họa tiết trang trí thời nhà Lý, nhà Trần, nhà Hồ... đã khẳng định sự gắn bó của cộng đồng các dân tộc trên mảnh đất Điền Trung với các cộng đồng dân tộc sống trên tổ quốc Việt Nam từ rất lâu đời. Đến thế kỷ thứ XV, sau khi hội tụ những người tài giỏi trong cả nước tại Khả Lam (Lam Sơn thuộc huyện Thọ Xuân ngày nay), năm 1420, Nguyễn Trãi dâng “Bình Ngô sách” ở trại Ba Lẫm (thuộc Chiềng Lẫm, xã Điền Lư), Bình định Vương Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn chiến đấu nếm mật nằm gai ở Thanh Hóa 6 năm. Các trận đánh lớn, trong đó có trận Ba Lẫm (địa danh Ba Lẫm thuộc vùng làng Chiềng Lẫm - Điền Lư ngày nay). Đồng bào các dân tộc trong vùng hưởng ứng tham gia cuộc khởi nghĩa do Bình định Vương Lê Lợi lãnh đạo rất đông, có những trận quân địch có tới mười vạn quân, nhưng vẫn bị quân ta đánh cho hồn bay phách lạc. Tên các vị khai quốc công thần nhà Lê như: Lê Sát, Lê Ba, Lê Xa Lôi, Lê Xa Long)... được nhân dân tôn trọng đặt tên cho các vùng đất bản Mường để ghi nhớ công ơn các vị. Một số Hào trưởng ở các Mường, trong đó có Hào trưởng Mường Khô được triều đình phong thưởng như Hà Công Thái được phong đến Quận Công triều Nguyễn. Đền thờ ông nay được phục dựng trở lại ngay tại địa điểm cũ tại làng Ngán, xã Điền Trung (tháng 12/2009) vẫn giữ nguyên tên gốc là “Chùa Mèo”. Khi thực dân Pháp đàn áp được cuộc khởi nghĩa Ba Đình (Nga Sơn), chúng tiếp tục tấn công Miền Tây Thanh Hóa (năm 1887). Hưởng ứng chiếu cần Vương, cai tổng Điền Lư là Hà Văn Mao có chí khí yêu nước được hội đồng tướng lĩnh dưới sự chỉ đạo của đề đốc Trần Xuân Soạn giao cho chức vụ tổng chỉ huy nghĩa quân miền núi thuộc lưu vực sông Mã. Hà Văn Mao ra sức xây dựng lực lượng, liên kết từ Mường Khoòng (Quốc Thành) đến Mã Cao (Yên Định) và Eo Lê (thuộc địa phận giáp danh giữa Cẩm Thủy và Vĩnh Lộc ngày nay), phối hợp với Đinh Công Tráng, Cầm Bá Thước phân tán lực lượng địch, gây cho chúng bao phen kinh hồn, bạt vía và tổn thất nặng nề. Khi Mường Khoòng bị rơi vào tay giặc, Hà Văn Mao uất ức tự vẫn. ông đã để lại tấm gương yêu nước “Thà chết chứ không chịu khuất phục quân thù Hà Văn Mao đã trở thành người con ưu tú của Điền Lư (Điền Lư và Điền Trung ngày nay), ông đã hy sinh anh dũng và để lại cho các thế hệ mai sau ở xã Điền Trung nói riêng, cho Bá Thước, cho cả dân tộc Việt Nam nói chung về tấm gương yêu nước thương nòi, chống lại thế lực ngoại bang xâm lược. Tiếp bước truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của cha ông, thế hệ trẻ Điền Trung lại lên đường tòng quân giết giặc cứu nước, lập công trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, giải phóng quê hương thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN. Điền Trung có vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện tự nhiên phong phú đa dạng và là xã có tiềm năng kinh tế được mệnh danh là đồng bằng, là vựa lúa của huyện Bá Thước. Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, cộng đồng các dân tộc anh em ở Điền Trung luôn đoàn kết, gắn bó với nhau tạo nên sức mạnh cộng đồng để cùng nhau chinh phục thiên nhiên và chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ xóm làng quê hương.

1. Vị trí địa lý

Tân Lập là một trong 23 xã, thị trấn của huyện Miền núi – vùng cao Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, các trung tâm Thị trấn Cành Nàng khoãng 5km theo đường Tỉnh lộ. đi qua trung tâm dọc theo chiều dài của xã vè hướng Bắc, cách Thành phố Thanh Hóa khoãng 120km về phía Tây, thuộc vùng Trung lưu Sông Mã. Xã Tân lập là một dải đất tương đối bằng phẳng, nằm dọc theo tả ngạn Sông Mã, thuộc phía Bắc của huyện Bá Thước, có vị trí:

-    Phía Đông giáp xã Hạ Trung
-    Phía Bắc giáp xã Ban Công
-    Phía Tây Nam giáp Sông Mã, đồng thời là danh giới giữa Tân Lập với các xã Lâm Xa, Thị trấn Cành Nàng và xã Ái Thượng, huyện Bá Thước.
-    Tân lập hiện nay gồm 8 thôn làng, các thôn đều nằm trải dọc theo tả ngạn Sông Mã, riêng có 3 thôn đó là thôn Chu, thôn Kim Vân, thôn Mòn là nằm sát vào chân núi trợ.

Diện Tích tự nhiên: 1.325,84ha
Trong đó: 
-    Đất nông nghiệp là: 367,09 ha
-    Đất Lâm nghiệp là: 532,94 ha
-    Đất ao hồ thủy sản là: 4,17 ha
-    Đất chưa sử dụng là: 199,30 ha

2. Dân số

Dân số của xã tính đến năm 2015 là: 2.708 người, mật độ dân số 187 người/km2

Có 3 dân tộc chủ yếu cùng sinh sống là Kinh, Mường, Thái.

Trong đó, dân tộc kinh chiếm 48,15%; dân tộc Mường chiếm 46,86%, còn 4,98% là dân tộc Thái.

Tính đến năm 2017 là 658 hộ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,8%.

3. Địa hình tự nhiên

Địa hình của xã Tân Lập nhìn chung không đồng nhất, độ cao thấp xen kẽ nhau, độ trênh lệch tương đối lớn.

Địa chất phụ thuộc vào đá mẹ, chủ yếu là đá vôi phong hóa. Phần lớn diện tích canh tác hình thành trên nền cát – xtơ, đọ chua phèn cao, hao nước. Để có những cánh đồng màu mỡ, xanh tươi, không phải có sự ưu đãi của thiên nhiên ban tặng, mà do kết quả lao động cần cù, sáng tạo của con người trải qua bao thế hệ nối tiếp nhau, do bàn tay khối óc của con người đấu tranh để sinh tồn mới có được thành quả sản xuất nông nghiệp như hiện nay.

4. Khí hậu

Do địa hình núi cao bao bọc phía Tây và phía Bắc.

Tân Lập hình thành hai vùng khí hậu rõ rệt.

Mùa Đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, gây ra những đợt rét đậm, sương muối, sương giá thường xuyên xuất hiện.

Mùa hè ảnh hưởng mạng chủ yếu là gió Đông Nam, thời gian chủ đạo từ tháng 4 đến tháng 10. Sựu chênh lệch giữa hai mùa (mùa mưa và mùa khô) rõ rệt

 Liên kết website